Bệnh Phó thương hàn gây bởi vi khuẩn Salmonella spp tạo thành những vụ dịch với triệu chứng điển hình như bại huyết, viêm ruột cấp tính hay mạn tính và ỉa chảy dữ dội ở heo cai sữa hay heo 10 – 16 tuần tuổi. Tỷ lệ heo ốm và chết cao.
- Nguyên nhân
Do vi khuẩn Salmonella spp gây ra, đây là vi khuẩn Gram (-) có rất nhiều chủng và cấu trúc kháng nguyên khác nhau. Chủng gây bệnh phó thương hàn ở heo 10 -16 tuần tuổi là S. choleraesuis. Đứng thứ hai là S. typhimurium và S. typhisuis cũng hay gây bệnh cho heo.
Vi khuẩn Salmonella có 2 dạng kháng nguyên: Kháng nguyên thân (O) và kháng nguyên lông (H)
Cơ chế gây bệnh, vi khuẩn tăng sinh và gây tổn thương các cơ quan, từ đó có thể nhiễm khuẩn máu. Trong quá trình phát triển, vi khuẩn sản sinh các độc tố và gây rất nhiều các rối loạn sinh học trong cơ thể con vật cũng như gây ngộ độc cho người tiêu dùng.
- Triệu chứng lâm sàng
Thời gian nung bệnh 3 – 4 ngày. Heo con mắc bệnh nhưng nặng nhất là ở độ tuổi từ 10 -16 tuần.
2.1 Thể bại huyết
Thường gặp nhất ở heo con và tỷ lệ chết có khi đến 100% nếu không can thiệp kịp thời.
Heo bị quỵ, nằm ỳ một chỗ, yếu và có các triệu chứng thần kinh. Con bệnh thường chui rúc vào đống ổ rác và trên tai xuất hiện những đám đỏ, sau chuyển màu tím.

Nhiệt độ cơ thể khoảng 40,6 – 41,7°C. Heo thường chết trong vòng 24 – 48 giờ.
2.2 Thể viêm ruột cấp
Thường gặp ở heo con sau khi trải qua bệnh thể bại huyết không chết.
Phân lúc đầu táo bón sau ỉa chảy toàn nước màu vàng nhạt. Thân nhiệt hạ khoảng 39,5 – 40°C kèm theo những triệu chứng đường hô hấp, thần kinh cũng như yếu, liệt và run rẩy, da trắng bệch.
Heo khỏi bệnh có thể bị lột da tai, đuôi.

2.3 Thể mạn tính
Heo gầy yếu dơ xương còm nhom, thỉnh thoảng sốt và ỉa chảy kéo dài.
3. Bệnh tích
Xuất huyết tràn lan từ da đến các phủ tạng.
Hạch lâm ba màu đá vân đỏ.
Gan và phổi sưng.
Hạch màng treo ruột sưng to.
Niêm mạc dạ dày xuất huyết hoặc có những vết loét. Niêm mạc ruột có nhiều vết loét như cúc áo, bờ hoại tử.
Lách sưng to, dai như cao su.
+ Ruột heo viêm loét


- Chuẩn đoán phân biệt
– Phân biệt bệnh tụ huyết trùng. Bệnh này cũng sốt cao, sốt cao hơn khoảng khoảng (41 – 420C) niêm mạc mắt đỏ hơn, thở nhiều, sờ da thấy nóng nhưng không bị xuất huyết tụ máu như ở bệnh phó thương hàn. Mũi và miệng chảy nhiều nước. Điều trị bằng kháng sinh như Streptomycin, Kanamycin, Oxytetracyclin, Gentamycin, Enrofloxacin … bệnh sẽ giảm và khỏi sau 2 -3 ngày (vì bệnh THT rất dễ bị kháng sinh tiêu diệt)
– Bệnh ỉa chảy phân trắng:
+ Do virus viêm dạ dày cũng nôn nhung sốt nhẹ hơn, lây nhanh hơn khó điều trị hơn. Nhưng không xuất huyết ở rìa tai, mõm chân, da bụng.
+ Do E.coli không sốt dùng kháng sinh điều trị sẽ khỏi sau 2 – 3 ngày.
+ Do cầu trùng ruột non phân màu vàng ít niêm mạc, sốt nhẹ, môi trường ẩm ướt thì lây lan nhanh.
– Đặc biệt cần phân biệt với bệnh dịch tả vì hai bệnh này có triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng bệnh dịch tả không chữa được bằng kháng sinh. Bệnh dịch tả cũng sốt cao, phân táo, da lạnh, xuất huyết ngoài da. Nhưng khi dùng kháng sinh Enrofloxacin, Flumequin, Colistine, Flophenicol, Amoxcyclin bệnh không giảm. Bệnh phó thương hàn thường rất hay ghép với bệnh dịch tả.
- Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát. Phun thuốc sát trùng chuồng trại theo định kỳ
Phòng bệnh phó thương hàn ở heo bằng vacxin khi heo được trên 21 ngày tuổi và tiêm nhắc lại sau 1 tháng. Nhưng với vùng hay bị bệnh phó thương hàn thì có thể tiêm vacxin sớm hơn lúc 10 – 15 ngày tuổi.
Với heo nái tiêm vacxin theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Điều trị
Nếu can thiệp muộn, khi nhiễm khuẩn huyết, ruột đã tổn thương nặng, loét thì kết quả kém và điều trị kéo dài, heo khỏi bệnh cũng chậm lớn, còi cọc.
Dùng một trong các phác đồ sau để điều trị bệnh:
Phác đồ 1: Tiêm CEFTRI ONE LA 1ml/10 kg thể trọng/ 2 ngày tiêm 1 lần, kết hợp tiêm GLUCO KC 1ml/10 kg thể trọng. Điều trị liên tục 5 ngày.
Phác đồ 2: Tiêm FLOR LA 1ml/10 kg thể trọng/2 ngày tiêm 1 lần, kết hợp tiêm GLUCO KC 1ml/10 kg thể trọng.
Trộn tổng đàn liên tục 5 – 7 ngày Haquinol.